Trang thông tin điện tử - Cơ quan chủ quản: Viện Kinh tế Xây dựng - Bộ Xây dựng
Tìm kiếm nâng cao
  • Một số giải pháp chuẩn hóa thuật ngữ chuyên ngành trong lĩnh vực Kinh tế và Quản lý xây dựng

    10/05/2017 - 04:29
    345
    0
    0

    KS. NGUYỄN NHƯ PHIÊN & PGS. TS. TRẦN VĂN TẤN
    GIẢNG VIÊN KHOA KINH TẾ & QUẢN LÝ XÂY DỰNG, TRƯỜNG ĐẠI HỌC XÂY DỰNG

    Trong những năm gần đây, đã có rất nhiều văn bản pháp luật, bài viết khoa học liên quan đến chuyên ngành Kinh tế và Quản lý Xây dựng được ban hành và công bố. Tuy nhiên một số thuật ngữ trong các văn bản này thiếu tính thống nhất về cách viết thuật ngữ cũng như cách hiểu nội dung các thuật ngữ, dẫn đến tình trạng khiếu nại, tranh chấp, bất đồng xảy ra trong thực tiễn. Do vậy, vấn đề thống nhất và chuẩn hóa hóa thuật ngữ về cách viết và cách hiểu thuật ngữ là rất cần thiết và cấp bách. Tuy nhiên, hiện nay chưa có một công trình khoa học nào khái quát được những thuật ngữ cơ bản nhất của chuyên ngành này. Bài viết này nêu lên một số bất cập trong cách sử dụng thuật ngữ, từ đó đưa ra một số giải pháp chuẩn hóa thuật ngữ chuyên ngành Kinh tế và Quản lý xây dựng.

    Trước những đòi hỏi ngày càng cao về cung cấp tri thức trong lĩnh vực Kinh tế và Quản lý xây dựng (KT&QLXD) đòi hỏi cần có một công trình khoa học về thuật ngữ chuyên ngành trong lĩnh vực KT&QLXD. Việc chuẩn hóa thuật ngữ chuyên ngành sẽ góp phần cung cấp những tri thức cơ bản nhất về KT&QLXD, bên cạnh đó cung cấp cách hiểu nhất quán trong nghiên cứu khoa học, đào tạo, quy phạm pháp luật về các thuật ngữ thuộc lĩnh vực KT&QLXD. Tuy nhiên hiện nay chưa có một công trình khoa học nào chuẩn hóa thuật ngữ chuyên ngành trong lĩnh vực KT&QLXD.  Do vậy, nhiệm vụ chuẩn hóa thuật ngữ chuyên ngành trong lĩnh vực KT&QLXD là rất cần thiết.

    1. Một số bất cập về sử dụng thuật ngữ chuyên ngành trong lĩnh vực Kinh tế và Quản lý Xây dựng

    Thuật ngữ là từ hoặc cụm từ của ngôn ngữ chuyên môn (ngôn ngữ khoa học, ngôn ngữ kỹ thuật, …) được sáng tạo ra (hoặc được tiếp nhận, được vay mượn, …) để biểu hiện chính xác các khái niệm chuyên môn và biểu thị các đối tượng chuyên môn. Thuật ngữ là bộ phận từ vựng chứa hàm lượng thông tin khoa học chủ yếu, giúp xác định chính xác nội dung và giúp cho các văn bản đạt được tính ngắn gọn, xúc tích. Để đảm bảo cho các văn bản quản lý nhà nước, các công trình nghiên cứu khoa học, bài báo, tạp chí… được hiểu rõ ràng, chính xác và thống nhất, yêu cầu đặt ra là các thuật ngữ trong các văn bản này cần có sự thống nhất, được giải thích theo nghĩa duy nhất, đảm bảo tính chính xác, khoa học phù hợp với nội hàm của thuật ngữ trong thực tiễn cuộc sống. Tuy nhiên việc sử dụng thuật ngữ trong các văn bản quản lý nhà nước (QLNN) hay các công trình nghiên cứu khoa học về lĩnh vực KT&QLXD hiện nay vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu và còn tồn tại một số bất cập sau:
    a. Trong các văn bản quy phạm pháp luật của nhà nước về lĩnh vực Kinh tế và Quản lý xây dựng không ít các thuật ngữ quan trọng nhưng không được giải thích
    Thuật ngữ trong lĩnh vực KT&QLXD được sử dụng phong phú và đa dạng trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật nhà nước khác nhau như luật, nghị định, thông tư, quyết định, công văn… liên quan đến quản lý đất đai, đấu thầu, đầu tư, quản lý dự án, kinh doanh bất động sản, đô thị…Tuy nhiên trên thực tế trong các văn bản này còn khá nhiều thuật ngữ quan trọng nhưng không được giải thích. Ví dụ như:
                    Luật Xây dựng số 50/2014/QH13 [4] có sử dụng thuật ngữ “Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng chuyên ngành”[4] và “Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng khu vực” [4], tuy nhiên thuật ngữ này lại không được giải thích trong Luật Xây dựng và các văn bản hướng dẫn. Trong các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý xây dựng mới đưa ra và giải thích thuật ngữ “dự án đầu tư” [6], “dự án đầu tư xây dựng” [4] mà chưa đưa ra khái niệm thuật ngữ “dự án ODA”,… Thuật ngữ “quản lý dự án” đến nay cũng chưa được giải thích chính thức. Điều này dẫn đến thực tế là trong hoạt động đầu tư xây dựng, thuật ngữ quản lý dự án chưa có sự thống nhất trong cách hiểu bởi trong quá trình hình thành công trình xây dựng thì quản lý dự án nằm trong những giai đoạn nào. Thuật ngữ “quản lý chi phí, kiểm soát chi phí” cũng chưa được giải thích trong các văn bản pháp luật dẫn tới nhiều quan điểm cho rằng kiểm soát chi phí chính là quản lý chi phí.
    Một số thuật ngữ khác cần được làm rõ hơn trong luật xây dựng như: “nhà thầu liên danh”, “nhà thầu liên doanh” [15], “bảo đảm bảo hành”, “bảo lãnh tạm ứng hợp đồng” [10], “giá hợp đồng xây dựng” [10] nhằm tham chiếu sự giải thích thuật ngữ “giá hợp đồng” [5] của Luật Đấu thầu tại khoản 21 Điều 4 để đảm bảo sự nhất quán giữa các văn bản pháp luật. Nghị định 11/2013/NĐ-CP [16] có sử dụng thuật ngữ “chủ đầu tư cấp 1” và thuật ngữ “chủ đầu tư thứ cấp” hai thuật ngữ này lại không được giải thích dẫn tới việc phân cấp quản lý chưa rõ ràng gây khó khăn trong quá trình thực hiện. Thông tư 03/2015/TT-BKHĐT [17] có sử dụng thuật ngữ “công nhật” tuy nhiên thuật ngữ này lại không được giải thích trong luật và các văn bản hướng dẫn luật.
    b. Thuật ngữ chuyên ngành trong lĩnh vực Kinh tế và Quản lý xây dựng được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau
    Một số thuật ngữ trong lĩnh vực KT&QLXD sử dụng trong các văn bản, tài liệu hiện có được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau, ví dụ như:
    Thuật ngữ “lãi gộp” trong vấn đề quản lý chi phí cũng được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau tùy theo góc độ của người đọc, có quan niệm cho rằng lãi gộp bằng doanh thu trừ giá vốn hàng bán nhưng cũng có quan niệm cho rằng lãi gộp bằng doanh thu trừ chi phí biến đổi. Theo Nghị định 32/2015/NĐ-CP [13] thì giá xây dựng công trình gồm đơn giá xây dựng chi tiết của công trình và giá xây dựng tổng hợp, như vậy thì thuật ngữ “giá xây dựng” với “đơn giá xây dựng” được hiểu giống nhau.
    Thuật ngữ “xây dựng bền vững” được hiểu theo nhiều quan niệm khác nhau. “Xây dựng bền vững” có thể là một quá trình toàn diện, trong đó các nguyên tắc của phát triển bền vững được áp dụng suốt vòng đời dự án, từ việc khai thác vật liệu thô, sau đó lập kế hoạch, thiết kế và xây dựng các công trình, cho đến phá dỡ, và quản lý chất thải, hoặc “xây dựng bền vững” là sự tạo lập và có trách nhiệm trong việc tạo ra một môi trường nhân tạo lành mạnh dựa trên cơ sở sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên và các nguyên tắc sinh thái, hoặc “xây dựng bền vững” có thể là trong suốt các quá trình xây dựng và vận hành đều hướng tới mục tiêu giảm tối đa tiêu thụ năng lượng và phát thải chất độc hại cho sức khỏe, tác động xấu đến môi trường đồng thời cung cấp những thông tin phù hợp cho khách hàng giúp họ đưa ra quyết định cuối cùng…
    Thuật ngữ “đầu tư công” [7] cũng được hiểu theo 2 cách hiểu khác nhau. Cách hiểu thứ nhất cho rằng, đầu tư công là toàn bộ nội dung liên quan đến đầu tư sử dụng vốn nhà nước, bao gồm hoạt động đầu tư hoặc hỗ trợ đầu tư sử dụng vốn nhà nước không nhằm mục đích thu lợi nhuận vào các chương trình, dự án phục vụ phát triển kinh tế – xã hội (gọi tắt là nhóm 1); các hoạt động đầu tư, kinh doanh sử dụng vốn nhà nước, đặc biệt là quản lý các hoạt động đầu tư của các doanh nghiệp nhà nước (gọi tắt là nhóm 2). Cách hiểu thứ hai cho rằng, đầu tư công chỉ bao gồm các hoạt động đầu tư bằng vốn nhà nước cho các dự án, chương trình không vì mục tiêu thu lợi nhuận.
    c. Thuật ngữ được giải thích chưa đảm bảo tính chính xác, rõ ràng, logic, khoa học
    Một số thuật ngữ được giải thích chưa bảo đảm tính chính xác, rõ ràng, nhất quán và khoa học, ví dụ như:
    Các thuật ngữ: “tổng thầu”, “thầu chính”, “thầu phụ” được giải thích chưa rõ ràng, cụ thể như sau:
    Tại khoản 35 và khoản 36 Điều 4 – Luật Đấu thầu số 43/2013/QH13 [5] quy định:
    –      Nhà thầu chính: là nhà thầu chịu trách nhiệm tham dự thầu, đứng tên dự thầu và trực tiếp ký, thực hiện hợp đồng nếu được lựa chọn.
    –      Nhà thầu phụ: là nhà thầu tham gia thực hiện gói thầu theo hợp đồng được ký với nhà thầu chính.
    Tại khoản 35 Điều 3 – Luật Xây dựng số 50/2014/QH13 [4] quy định:
    –      Tổng thầu xây dựng: là nhà thầu ký kết hợp đồng trực tiếp với chủ đầu tư để nhận thầu, một số loại công việc hoặc toàn bộ công việc của dự án đầu tư xây dựng.
    Tại khoản 11 và khoản 12 Điều 2 – Nghị định số 37/2015/NĐ-CP [10] quy định:
    –      Nhà thầu chính: là nhà thầu trực tiếp ký kết hợp đồng xây dựng với chủ đầu tư xây dựng.
    –      Nhà thầu phụ: là nhà thầu ký kết hợp đồng xây dựng với nhà thầu chính hoặc tổng thầu.
    Theo cách giải thích các thuật ngữ sử dụng trong các văn bản nêu trên thì rất khó phân biệt giữa tổng thầu và nhà thầu chính hay nhà thầu phụ trong mối quan hệ giữa nhà thầu chính, tổng thầu và thầu phụ.
    Một vấn đề nữa là tại điểm 13 khoản 2.1 Mục 2 Chương III – Thông tư 03/2015/TT-BKHĐT [17] có sử dụng thuật ngữ “Nhà thầu quản lý” là nhà thầu không trực tiếp thực hiện một phần hoặc toàn bộ các công việc của gói thầu mà ký hợp đồng với các nhà thầu khác để thực hiện nhưng nhà thầu vẫn quản lý việc thực hiện của các nhà thầu mà mình đã ký hợp đồng, đồng thời vẫn chịu toàn bộ trách nhiệm cũng như rủi ro liên quan đến giá thành, tiến độ thực hiện và chất lượng của gói thầu. Do chưa có sự rõ ràng nên sẽ xảy ra vấn đề là nhà thầu quản lý có phải là tổng thầu hay không.
    Điều 3, Khoản 4 Luật Xây dựng 50/2014 [4] quy định khái niệm thuật ngữ “bộ quản lý công trình xây dựng chuyên ngành” là bộ được giao nhiệm vụ quản lý, thực hiện đầu tư xây dựng công trình thuộc chuyên ngành xây dựng do mình quản lý. Với nội dung khái niệm trên không đúng thực tế, không phù hợp với quy định của pháp luật, cụ thể đối với các công trình viễn thông, văn hóa, thể thao, y tế thì bộ nào là bộ quản lý công trình xây dựng chuyên ngành. Do đó, thuật ngữ “bộ quản lý công trình xây dựng chuyên ngành”, thay bằng thuật ngữ là “cơ quan nhà nước quản lý công trình xây dựng chuyên ngành”.
    d. Không thống nhất cách viết thuật ngữ trong cùng một văn bản hay ở các văn bản khác nhau
                    Các thuật ngữ trong Luật Xây dựng và Luật Quy hoạch đô thị chưa có sự phân biệt rõ ràng như: Quy hoạch đô thị [8] – Quy hoạch xây dựng [4]; Quy hoạch chung đô thị [8] – Quy hoạch chung xây dựng [4]; Quy hoạch nông thôn [8] – Quy hoạch xây dựng nông thôn [4].
    Trong Luật Xây dựng, Luật Đầu tư, Nghị định 38/2013/NĐ-CP về quản lý và sử dụng nguồn vốn ODA còn có sự khác nhau về tên gọi các thuật ngữ: “chủ đầu tư [4], [6], chủ dự án” [11]… Nghị định 121/2013/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động xây dựng vẫn còn sử dụng thuật ngữ cũ Lập dự án đầu tư” [12].
    Một số thuật ngữ trong lĩnh vực Quản lý chi phí đầu tư xây dựng theo Nghị định 32/2015/NĐ-CP [13] đã thay đổi tuy nhiên một số bài viết nghiên cứu khoa học, luận văn thạc sỹ… vẫn còn sử dụng các thuật ngữ cũ, cụ thể như: quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trình – quản lý chi phí đầu tư xây dựng, tổng mức đầu tư – tổng mức đầu tư xây dựng, dự toán xây dựng công trình – dự toán xây dựng, dự toán chi phí xây dựng – chi phí xây dựng trong dự toán xây dựng. Nghị định 32/2015/NĐ-CP [13] ra đời đã bãi bỏ thuật ngữ “chi phí trực tiếp khác” tuy nhiên trong một số công trình khoa học thì thuật ngữ “chi phí trực tiếp khác” vẫn còn được sử dụng.
    Một số thuật ngữ quy định trong nghị định 37/2015 NĐ-CP [10] quy định chi tiết về hợp đồng xây dựng chưa có sự thống nhất. Thuật ngữ “Giá trị hợp đồng” [10] sử dụng tại Khoản 5 Điều 18 khi quy định về mức tạm ứng tối đa và “Giá hợp đồng” [10] sử dụng tại điểm đ Khoản 5 khi quy định về thu hồi hết tiền tạm ứng. Thuật ngữ “Hợp đồng tổng thầu EPC” [10] sử dụng tại điểm g Khoản 1 Điều 3 và “Hợp đồng EPC” sử dụng tại điểm d Khoản 1 Điều 12 [10]. Điều 3 Luật Xây dựng [4] có giải thích thuật ngữ “người quyết định đầu tư” tuy nhiên trong Nghị định 37/2015/NĐ-CP [10] lại sử dụng thuật ngữ “người có thẩm quyền quyết định đầu tư”.
    Một số thuật ngữ có cùng một cách hiểu nhưng tên gọi các thuật ngữ này lại khác nhau, vấn đề đặt ra là sử dụng chúng như thế nào trong các loại hình văn bản, chẳng hạn thuật ngữ “tài sản lưu động – tài sản ngắn hạn, định phí – chi phí cố định, biến phí – chi phí biến đổi, khái toán – tổng mức đầu tư”.
    e. Nhiều thuật ngữ hay khái niệm dùng trong các văn bản về đầu tư xây dựng không nhất quán và không phù hợp với thông lệ quốc tế
    Khoản 2 Điều 5 Nghị định 59/2015/NĐ-CP [14] về Quản lý dự án đầu tư Xây dựng sử dụng thuật ngữ “Báo cáo kinh tế – kỹ thuật đầu tư xây dựng” áp dụng cho một số dự án đầu tư xây dựng công trình (công trình tôn giáo, công trình quy mô vốn đầu tư nhỏ). Theo tập quán quốc tế không phân biệt quy mô lớn nhỏ đều gọi là “Dự án đầu tư (Investment Project)”.
    Luật Xây dựng, Nghị định 59/2015/NĐ-CP [14] sử dụng các thuật ngữ như “thiết kế sơ bộ”, “thiết kế cơ sở”, “thiết kế kỹ thuật”, “thiết kế bản vẽ thi công” trong khi theo tập quán quốc tế các thuật ngữ như “thiết kế định hướng (Concept Design)”, “thiết kế kỹ thuật tổng thể (FEED)” được sử dụng rộng rãi trong bước nghiên cứu tiền khả thi phục vụ cho mục đích xem xét, quyết định chủ trương đầu tư.
     “Thiết kế cơ sở” là một thuật ngữ được sử dụng rộng rãi tại Việt Nam trong khi theo tập quán quốc tế thì thuật ngữ được sử dụng rộng rãi trong giai đoạn này là “thiết kế sơ bộ”. Luật Xây dựng quy định nội dung “thiết kế cơ sở” chi tiết hơn nội dung “thiết kế sơ bộ” theo thông lệ quốc tế nhằm phục vụ cho yêu cầu quản lý của cơ quan Nhà nước. Tuy nhiên thực tế đã chứng minh trong giai đoạn lập dự án mà đã yêu cầu phải có ngay thiết kế mang tính chi tiết là rất khó khăn, đôi khi không thể thực hiện cho chủ đầu tư và các tổ chức tư vấn lập dự án, do ở giai đoạn này một thiết kế chi tiết như vậy có thể chưa thực sự cần thiết đối với chủ đầu tư hoặc chưa có đủ dữ liệu cần thiết để lập một thiết kế như vậy.

    2. Một số giải pháp chuẩn hóa thuật ngữ chuyên ngành trong lĩnh vực Kinh tế và Quản lý Xây dựng

    Qua phân tích một số bất cập về sử dụng thuật ngữ chuyên ngành trong lĩnh vực KT&QLXD, có thể thấy được sự cần thiết phải chuẩn hóa hệ thống thuật ngữ chuyên ngành này. Việc chuẩn hóa thuật ngữ chuyên ngành KT&QLXD đem đến lợi ích thiết thực trong quản lý xây dựng, giải quyết vấn đề mâu thuẫn, chồng chéo, thiếu nhất quán giữa các văn bản quy phạm pháp luật và các công trình khoa học khác đảm bảo sự trong sáng của tiếng Việt đồng thời hạn chế những vướng mắc không đáng có trong quá trình quản lý xây dựng.
    Một là: tuân thủ đúng quy định của pháp Luật về soạn thảo và ban hành văn bản quy phạm pháp luật.
    Thuật ngữ chuyên ngành trong lĩnh vực KT&QLXD cần phải chuẩn mực ngay từ văn bản có hiệu lực pháp lý cao nhất và được sử dụng thống nhất trong hệ thống văn bản. Các thuật ngữ quan trọng cần xác định rõ nội dung và phải được thống nhất trong các văn bản Quản lý nhà nước. Để nâng cao chất lượng nội dung các văn bản pháp luật mà quan trọng trong đó là giải thích nội dung các thuật ngữ cần phải được lấy ý kiến của các cơ quan, đơn vị liên quan, các nhà khoa học, các tổ chức chính trị-xã hội và người dân. Bằng cách này, dự thảo văn bản trải qua nhiều lần sàng lọc và qua mỗi lần như vậy việc sử dụng thuật ngữ sẽ chính xác, phù hợp hơn.
    Hai là: thực hiện rà soát, hệ thống hóa thuật ngữ chuyên ngành.
    Thuật ngữ chuyên ngành tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau từ văn bản pháp luật, bài báo, tạp chí, đề tài nghiên cứu khoa học, luận văn thạc sỹ, luận án tiến sĩ… Do đó, để xây dựng hệ thống thuật ngữ chuẩn, không thể không thực hiện rà soát hệ thống hóa thuật ngữ, nghiên cứu xây dựng các tiêu chí chuẩn cho thuật ngữ về từ vựng, cấu trúc, văn phong, chính tả ngữ nghĩa, logic hệ thống trong cách giải thích các thuật ngữ. Để tiến hành rà soát, hệ thống hóa thuật ngữ, xây dựng hệ thống thuật ngữ chuẩn với cách giải thích khoa học cần có sự phối hợp tham gia của các nhà ngôn ngữ học, các nhà khoa học có liên quan…
                    Công việc này có thể thực hiện trong quá trình xây dựng dự thảo văn bản pháp luật hoặc các công trình nghiên cứu  khoa học. Thực tế, Việt Nam hiện nay chưa có một công trình nào thực hiện việc rà soát, hệ thống hóa các thuật ngữ trong lĩnh vực KT&QLXD.
    Ba là: đảm bảo những nguyên tắc của việc chuẩn hóa thuật ngữ sau:
    a. Lựa chọn qua kiểm chứng thực tế
    Quá trình chuẩn hoá thuật ngữ luôn luôn diễn ra sau quá trình chuẩn hoá các khái niệm mà nó gọi tên. Việc chuẩn hoá một ngôn ngữ là thực sự cần thiết để đơn giản hoá một dạng biểu thị có được nhờ sự nỗ lực của toàn xã hội. Đây chính là cố gắng để chọn lựa một hình thức biểu hiện thích hợp nhất của ngôn ngữ, là quá trình sáng tạo và kiểm nghiệm chặt chẽ với sự tham gia của nhiều tầng lớp xã hội.
    b. Có sự hợp tác của cộng đồng
    Chuẩn hoá thuật ngữ là hoạt động mang tính kinh tế và xã hội mà kết quả của nó là kết quả của sự hợp tác có hiệu quả của tất cả những người có liên quan. Nó dựa trên sự thống nhất chung của toàn xã hội trong việc chấp nhận và sử dụng thuật ngữ chính xác trong từng lĩnh vực chuyên môn. Theo nguyên tắc này, thuật ngữ phải được đặt ra không chỉ bởi các nhà chuyên môn và cho riêng các nhà chuyên môn, mà còn có sự đóng góp của các nhà ngôn ngữ, và được chấp nhận bởi người sử dụng. Một thuật ngữ sẽ không đạt tiêu chuẩn nếu thuật ngữ ấy luôn bị sử dụng nhầm lẫn, hay gây nhầm lẫn cho người sử dụng.
    c. Bảo đảm tính thân thiện với người sử dụng thuật ngữ
    “Tính thân thiện” được hiểu là tính dễ dùng, dễ áp dụng của một thuật ngữ. Bởi vì trên thực tế, việc đề xuất một thuật ngữ có giá trị không đáng kể so với việc áp dụng nó trong giao tiếp khoa học và trong cuộc sống. Chính việc sử dụng thuật ngữ của số đông khiến người sử dụng đôi khi chấp nhận dùng thuật ngữ của ngôn ngữ khác nhằm đạt hiệu quả cao trong giao tiếp, trong công việc. Thuật ngữ có vai trò rất lớn trong việc truyền bá kiến thức của một ngành, lĩnh vực khoa học nói chung nhất là lĩnh vực đa ngành như lĩnh vực KT&QLXD. Nếu thuật ngữ gần gũi với người sử dụng thì có nghĩa là chúng sẽ đóng góp không ít cho việc áp dụng các thành quả của ngành khoa học đó trong cuộc sống. Điều đó cũng có nghĩa là tính dễ dùng của thuật ngữ sẽ giúp cho khoa học ngày càng phát triển.
    d. Bảo đảm tính tiềm năng của thuật ngữ
    Chuẩn hoá một thuật ngữ đòi hỏi đầu tiên là yếu tố từ vựng (từ loại, khả năng hoạt động, cấu tạo từ…) sau đó là nội dung (nghĩa) của từ. Việc chọn lựa một thuật ngữ còn phải tính đến khả năng phát triển của đối tượng mà nó biểu đạt. Từ một thuật ngữ có thể tạo ra các thuật ngữ có liên quan khác nhờ biến đổi, hay ghép từ. Đây cũng là một lí do khiến cho thuật ngữ phần lớn là danh từ, một từ loại có khả năng kết hợp với nhiều từ loại khác nhau (động từ, tính từ, danh từ, số từ…).
    e. Liên tục điều chỉnh
    Thuật ngữ sau khi được chuẩn hoá vẫn cần được kiểm tra lại khi đối tượng mà nó biểu đạt có những thay đổi rõ ràng. Khi điều kiện sử dụng và các đặc điểm khác của một đối tượng được biểu thị bằng thuật ngữ thay đổi thì phải có biện pháp kiểm tra lại để khẳng định liệu nó có còn phản ánh đúng khái niệm ban đầu hay không.
    f. Bảo đảm tính pháp lí của thuật ngữ
    Việc chuẩn hoá thuật ngữ phải được tiến hành hợp pháp, đúng luật và có sự hợp tác của các cơ quan hữu quan, của chính phủ. Việc tạo thuật ngữ xảy ra ngay khi một khái niệm mới xuất hiện hay được khám phá, nó đòi hỏi một lượng thời gian rất ngắn để thực hiện; còn việc chuẩn hoá thì diễn ra sau khi thuật ngữ đã ra đời và cần thời gian lâu hơn để trải nghiệm, đặc biệt là khi có hai hay ba thuật ngữ được tạo ra để biểu diễn cùng một nội dung. Quá trình chuẩn hoá chỉ kết thúc khi mọi đặc điểm của khái niệm mà thuật ngữ diễn đạt đã trở nên rõ ràng, đảm bảo cho sự tồn tại của thuật ngữ, gạt đi mọi phiên bản của nó. Đôi khi sự biến mất của một khái niệm, sự vật, hiện tượng quyết định sự tồn tại hay mất đi của một thuật ngữ. Và trong khi thuật ngữ phải luôn luôn ý thức rằng đây là một quá trình linh hoạt, mềm dẻo nhằm tạo ra những đơn vị ngôn ngữ hợp lí nhất về nội dung, cũng như hình thức biểu đạt, chứ không phải là áp đặt những quy ước cứng nhắc, bất di bất dịch với các đơn vị đặc biệt này của ngôn ngữ.
    Bốn là: cần xây dựng Từ điển thuật ngữ chuyên ngành về Kinh tế và Quản lý Xây dựng có chất lượng cao.
                    Trong các văn bản pháp luật không phải nhất thiết phải có phần giải thích tất cả các thuật ngữ được sử dụng trong đó. Vì thế nếu thuật ngữ chưa được giải thích hoặc giải thích không rõ mà không tìm kiếm được nguồn tài liệu tương đối chuẩn để giải thích sẽ gây ra khó khăn trong công tác tuyên truyền phổ biến, áp dụng pháp luật.
                    Hiện nay đã có một số bài viết giải thích thuật ngữ về hợp đồng xây dựng, đấu thầu xây dựng, quản lý dự án đầu tư xây dựng nhưng vẫn còn một số lượng lớn các thuật ngữ chưa được giải thích hay giải thích không thấu đáo nhất là những thuật ngữ có nghĩa gần nhau nhưng không hoàn toàn đồng nghĩa, một số thuật ngữ quan trọng không được giải thích hoặc giải thích nhưng chưa làm rõ nội hàm của thuật ngữ. Chính vì vậy cần thiết xuất bản từ điển thuật ngữ chuyên ngành KT&QLXD chuẩn hóa thuật ngữ cả từ góc độ nội hàm khái niệm và cả từ góc độ ngôn ngữ.
    Để thẩm định tính chính xác của thuật ngữ, cần nắm vững nội dung khái niệm mà thuật ngữ diễn đạt. Chỉ riêng các nhà ngôn ngữ học sẽ không làm nổi việc này mà cần có sự phối hợp giữa các nhà ngôn ngữ học với các nhà khoa học thuộc chuyên ngành. Công việc cấp bách hiện nay là biên soạn cuốn từ điển thuật ngữ chuyên ngành KT&QLXD. Trên cơ sở đó, chúng ta mới có điều kiện để chọn lựa hợp lí những thuật ngữ đang được sử dụng trên sách báo hiện nay.

    3. Kết luận

                    Như vậy, có thể nói việc chuẩn hóa thuật ngữ chuyên ngành KT&QLXD là yêu cầu cần thiết cấp bách đặt ra hiện nay. Việc chuẩn hóa thuật ngữ đòi hỏi sự tập trung đầu tư công sức của các nhà khoa học. Giải pháp mang tính khả thi là xây dựng cuốn từ điển thuật ngữ chuyên ngành KT&QLXD, nơi cung cấp những tri thức cơ bản nhất về chuyên ngành, nơi sử dụng một cách nhất quán các thuật ngữ trong các văn bản quy phạm pháp luật, nơi cung cấp cách hiểu nhất quán trong nghiên cứu khoa học, trong đào tạo về các thuật ngữ thuộc lĩnh vực KT&QLXD.

    TÀI LIỆU THAM KHẢO
    [1] Phạm Văn Bảy, Lê Minh Triết (1993), Về nguyên tắc xây dựng và chuẩn hóa thuật ngữ, NXB KHXH, Hà Nội.
    [2] Mai Thị Loan (2011), “Thống nhất các yêu cầu của một thuật ngữ chuẩn”, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN.
    [3] Lại Văn Hùng (2010), “Một số vấn đề cơ bản về lí luận và phương pháp luận biên soạn các loại từ điển ở Việt Nam”, Báo cáo đề tài cấp Bộ, Viện từ điển học và bách khoa thư Việt Nam.
    [4] Luật Xây dựng số 50/2014/QH13.
    [5] Luật Đấu thầu số 43/2013/QH13.
    [6] Luật Đầu tư số 67/2014/QH13.
    [7] Luật Đầu tư công số 49/2014/QH13.
    [8] Luật Quy hoạch đô thị số 30/2009/QH12.
    [9] Luật Đất đai số 45/2013/QH13.
    [10] Nghị định 37/2015/NĐ-CP quy định về hợp đồng xây dựng.
    [11] Nghị định 38/2015/NĐ-CP quy định về quản lý và sử dụng nguồn vốn ODA.
    [12] Nghị định 121/2013/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động xây dựng.
    [13] Nghị định 32/2015/NĐ-CP quy định về quản lý chi phí đầu tư xây dựng.
    [14] Nghị định 59/2015/NĐ-CP quy định về quản lý dự án đầu tư xây dựng.
    [15] Nghị định 63/2014/NĐ-CP quy định về lựa chọn nhà thầu.
    [16] Nghị định 11/2013/NĐ-CP quy định về quản lý đầu tư phát triển đô thị.
    [17] Thông tư 03/2015/TT-BKHĐT quy định chi tiết lập Hồ sơ mời thầu xây lắp.

    Bình luận