Để một text box để khắc phục lỗi không bắt sự kiện khi enter

Thị trường máy và thiết bị thi công xây dựng tại Việt Nam - Xu hướng phát triển

Cập nhật: 21/12/2016
Lượt xem: 1330
Tại Việt Nam, thị trường mua bán máy đã hình thành từ khá lâu và đã có bước phát triển nhất định cùng với quá trình phát triển của ngành công nghiệp sản xuất xây dựng. Hiện nay, việc thuê máy và thiết bị thi công xây dựng là việc phổ biến và đem lại hiệu quả cao ở các nước phát triển, bởi biện pháp này có thể sử dụng được tối đa công suất đồng thời giảm chi phí đầu tư mua sắm ban đầu cùng các chi phí bảo quản, hao mòn. 

Tại Việt Nam thời gian qua, giá trị sản xuất xây dựng luôn trong danh sách đứng đầu có tốc độ tăng trưởng cao trong các ngành sản xuất. Giá trị ngành sản xuất công nghiệp và xây dựng luôn có sự tăng trưởng trên 15% hàng năm. Với tốc độ xây dựng nhanh chóng, Việt Nam đang trở thành thị trường mới nổi hấp dẫn nhất Đông Nam Á về các thiết bị, máy móc xây dựng.

Những con số ấn tượng, cùng các công trường liên tục mọc lên suốt chiều dài đất nước hẳn nhiên không lọt khỏi tầm mắt của các nhà cung cấp thiết bị, máy móc xây dựng trong nước cũng như thế giới. Bởi với các công trình xây dựng ngày càng hiện đại, nhất là xu hướng tận dụng không gian ngầm, chắc chắn các nhà thầu xây dựng, đơn vị thi công công trình phải trang bị đồng bộ những loại máy móc, thiết bị xây dựng tiên tiến, hiện đại để đáp ứng nhu cầu của ngành xây dựng trong nước. Có thể nói, đây là nhu cầu có thật và rất bức thiết, nhưng ngành công nghiệp cơ khí của Việt Nam về cơ bản lại chưa sản xuất được các loại máy móc xây dựng có thể đáp ứng được về tính năng kỹ thuật, số lượng, độ đa dạng cũng như chất lượng thi công xây dựng công trình.

Cùng với xu thế hội nhập sâu rộng vào kinh tế thế giới, sản xuất xây dựng và khoa học công nghệ đã và đang có những bước phát triển. Nhiều công nghệ thi công xây dựng mới trong ngành xây dựng xuất hiện đáp ứng yêu cầu thực tiễn. Theo đó là sự xuất hiện của nhiều loại máy và thiết bị thi công tiên tiến có năng suất cao hơn, đặc tính kỹ thuật hiện đại hơn, giảm bớt sức lao động thủ công của con người góp phần kích thích cho sự phát triển của thị trường máy và thiết bị thi công xây dựng tại Việt Nam.

1.  Cơ cấu thị trường máy và thiết bị thi công xây dựng tại Việt Nam

Theo số liệu ước tính của Hiệp hội Doanh nghiệp Cơ khí Việt Nam (VAMI), hiện Việt Nam có khoảng 150.000 nhà thầu xây dựng, trong đó có khoảng 2.000 nhà thầu cỡ lớn và vừa, nên nhu cầu về máy móc xây dựng sẽ rất lớn. Theo thống kê hàng năm, nước ta có kim ngạch nhập khẩu máy xây dựng vào khoảng 2 ÷ 3 tỷ USD/năm, với số lượng vào khoảng 12.000 ÷ 15.000 chiếc, và chủ yếu là nhóm máy xúc đào, máy ủi, máy lu.

Chi phí đầu tư mua sắm máy xây dựng mới là khá cao, nên tại thị trường Việt Nam hiện nay, việc nhập khẩu chiếm đến 95% là máy cũ đã qua sử dụng. Bên cạnh lý do khả năng tài chính của các doanh nghiệp Việt Nam chưa mạnh thì bởi mức giá của máy cũ nhập tương đối hấp dẫn, chỉ bằng 1/3 ÷ 1/4 so với giá mua mới. Một số nước, có lượng máy xây dựng nhập khẩu lớn vào Việt Nam có thể kể đến như Nhật, Hàn Quốc, Trung Quốc và Mỹ, với các hãng nổi tiếng như: Komatsu (Nhật Bản), Hitachi (Nhật Bản), Kobelco (Nhật Bản), Doosan (Hàn Quốc), Hyundai (Hàn Quốc), Daewoo (Hàn Quốc) và Caterpillar (Mỹ).
 

2. Thị trường mua bán máy xây dựng

Tại Việt Nam, thị trường mua bán máy đã hình thành từ khá lâu và đã có bước phát triển nhất định cùng với quá trình phát triển của ngành công nghiệp sản xuất xây dựng. Tuy nhiên, số lượng máy và thiết bị thi công xây dựng nhập khẩu cũ có xuất xứ từ các nước phát triển như Nhật Bản, Hàn Quốc, Mỹ… vẫn chiếm tỷ trọng lớn trên thị trường. Trong khi đó, thị trường nhập khẩu và mua bán máy xây dựng mới 100% lại chủ yếu có xuất xứ từ Trung Quốc với các thương hiệu đã được biết đến ở Việt Nam như MINGYU, Dynapac, Liugong, XCMG… bởi yếu tố giá bán thấp và rất cạnh tranh so với chủng loại máy xây dựng cùng loại có xuất xứ từ các nước phát triển.

Có thể nhận thấy nhu cầu mua bán máy nhập khẩu nhộn nhịp tại các tỉnh, thành có điều kiện kinh tế xã hội phát triển và đầu tư xây dựng lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng, Đồng Nai, Bình Dương… với rất nhiều các bãi bán máy xây dựng đáp ứng tối đa nhu cầu của bên thuê. Mặc dù chưa có thống kê chính xác nhưng theo ước tính có khoảng 450 đơn vị tham gia nhập khẩu các loại thiết bị máy xây dựng và cung cấp dịch vụ mua bán máy xây dựng trên thị trường.
Trong quý I/2016, theo ước tính của Tổng cục Hải quan, cùng với đà tăng trưởng của nền kinh tế, nhu cầu xây dựng trong nước tăng, đặc biệt là đối với nhóm công trình đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật, lượng máy xây dựng nhập khẩu về nước ta cao hơn so với mức cùng kỳ năm 2015. Chủng loại máy xây dựng nhập về nước ta chủ yếu là máy xúc đào, máy ủi và xe lu đều tăng so với năm 2015. Theo đó, số lượng máy xúc đào nhập về trong Quý I/2016 đạt khoảng trên 3.500 chiếc với trị giá ước đạt 55,7 triệu USD, tăng 13,8% về lượng và 10,2% về trị giá so với cùng kỳ năm trước. Những nhãn hiệu máy xúc đào, máy ủi và xe lu được nhập vào nước ta là những nhãn hiệu quen thuộc như Komatsu, Kobelco, Hitachi...
 

3. Thị trường cho thuê máy xây dựng - Xu hướng phát triển trong tương lai

Hiện nay, việc thuê máy và thiết bị thi công xây dựng là việc phổ biến và đem lại hiệu quả cao ở các nước phát triển, bởi biện pháp này có thể sử dụng được tối đa công suất đồng thời giảm chi phí đầu tư mua sắm ban đầu cùng các chi phí bảo quản, hao mòn. Tại Nhật Bản, nơi mà thị trường thuê máy rất phát triển, việc thuê máy và thiết bị thi công xây dựng từ nhiều năm qua được coi như là một giải pháp tối ưu của hầu hết các nhà thầu xây dựng, bởi số ít các nhà thầu có thể tự bỏ ra một số tiền lớn để đầu tư mua sắm tất cả các loại máy và thiết bị phục vụ thi công xây dựng công trình. Trong khi đó, hiệu quả của việc đầu tư mua sắm thường không cao, việc vận chuyển thiết bị thi công đến công trường đặc biệt ở những nơi xa xôi thì tốn kèm và tiềm ẩn rủi ro.

Tại Việt Nam, thời gian qua, thị trường cho thuê máy đã và đang có những bước phát triển nhất định. Nhóm thị trường cho thuê máy chủ yếu phát triển ở các tỉnh thành lớn, nơi có nhu cầu xây dựng cao, điều kiện kinh tế xã hội phát triển. Hiện nay, đối với các nhà thầu thi công xây dựng, bên cạnh những tập đoàn và tổng công ty lớn với chủng loại máy sẵn có thì phần lớn các nhà thầu xây dựng đều có hoạt động thuê máy xây dựng để phục vụ công tác thi công, bởi tính tiện dụng, hiệu quả và năng suất cao hơn hẳn. Qua khảo sát một số nhà thầu xây dựng tư nhân có quy mô vừa và nhỏ cho thấy, có đến trên 70% số lượng máy xây dựng sử dụng thi công xây dựng công trình được các nhà thầu sử dụng hình thức thuê khoán. Hình thức thuê máy từng bước đã thể hiện tính hiệu quả hơn hẳn so với hình thức đầu tư mua sắm mới đối với các nhà thầu xây dựng hiện nay.

- Các phương thức cho thuê máy áp dụng trên thị trường hiện nay khá đa dạng, linh hoạt phù hợp với từng công trình và nhu cầu của bên thuê, cụ thể:
+ Cho thuê máy theo tháng
+ Cho thuê máy theo ca
+ Cho thuê máy theo khối lượng thi công

Phương thức cho thuê máy theo tháng được áp dụng cho những công trình có khối lượng công tác xây dựng lớn, thời gian để hoàn thành công việc kéo dài theo tiến độ thi công xây dựng công trình hoặc vị trí công trình ở vùng sâu, vùng xa so với địa điểm của bên cho thuê máy. Phương thức này hiện nay được cả bên cho thuê và bên thuê lựa chọn sử dụng rộng rãi.

Phương thức cho thuê máy theo ca thường được áp dụng khi công tác xây dựng có thể được thực hiện liên tục, không hoặc ít có sự gián đoạn và hoàn thành trong thời gian ngắn. Vị trí công trình thường ở gần nơi cung cấp dịch vụ cho thuê máy để việc vận chuyển máy đến được thuận tiện và giảm chi phí.

Phương thức cho thuê máy theo khối lượng thi công được áp dụng với công việc có thể hoàn thành liên tục, khối lượng công việc ít hoặc cần hoàn thành gấp để thực hiện các bước công việc khác tiếp sau đó. Hiệu suất máy thường được sử dụng tối đa trong phương thức cho thuê này. Phương thức này kích thích tăng năng suất lao động và hiệu suất sử dụng máy, có tính chất khoán, do vậy nó cũng thường được ưu tiên lựa chọn.

Tùy vào nhu cầu, khả năng của bên thuê và bên cho thuê mà các phương thức nêu trên lại chia ra hình thức thuê máy “khô” và thuê máy “ướt”. Theo đó, hình thức thuê máy “khô” là hình thức bên cho thuê chỉ cung cấp máy mà không kèm theo nhiên liệu cho máy hoạt động. Trong khi đó, hình thức thuê máy “ướt” thì sẽ bao gồm luôn cả chi phí nhiên liệu. Hình thức thuê máy “khô” được thực hiện với các loại máy xây dựng sử dụng năng lượng điện như cần trục tháp, các loại máy gia công kim loại, máy hàn... Hình thức thuê máy “khô” được thực hiện với các loại máy xây dựng sử dụng năng lượng xăng, dầu diezel như máy đào, xúc, ủi bởi tính kinh tế của bên thuê. Tuy nhiên, tùy vào từng trường hợp cụ thể, các bên sẽ có những thỏa thuận chi tiết trong hợp đồng thuê máy liên quan đến các yếu tố khác như chi phí vận chuyển, sửa chữa bảo dưỡng nhỏ, lắp đặt... để đảm bảo tính linh hoạt.

Liên quan đến công cụ pháp luật để tạo điều kiện cho thị trường cho thuê máy xây dựng phát triển, thì các trong các văn bản quy pháp liên quan đến việc lựa chọn nhà thầu tại Việt Nam thì việc nhà thầu sở hữu máy vẫn có được những ưu thế nhất định khi đánh giá lựa chọn về mặt kỹ thuật, điều này phần nào hạn chế sự phát triển của thị trường cho thuê máy thời gian qua.

Tuy nhiên, theo nhận định của nhiều chuyên gia, trong xu thế hội nhập phát triển, hiệu quả của việc thuê máy và thiết bị thi công xây dựng đều được các nhà thầu nhận biết nên xu hướng thuê máy và thiết bị thi công xây dựng sẽ là phổ biến tại Việt Nam trong thời gian tới và hứa hẹn nhiều tiềm năng phát triển trong tương lai.
(Tạp chí Kinh tế xây dựng số 03/2016)

Danh sách bình luận (0):
 
Hủy Gửi
Quý khách vui lòng gửi câu hỏi bằng cách điền thông tin theo mẫu bên dưới:
 
Hủy Gửi
Các tin liên quan:
Sử dụng tro, xỉ của nhà máy nhiệt điện để sản xuất vật liệu xây dựng (19/04 )
Chủ động, quyết liệt trong thực hiện nhiệm vụ của ngành (19/04 )
Bộ Xây dựng công bố Định mức dự toán xây dựng công trình Phần xây dựng (sửa đổi và bổ sung) và Phần lắp đặt (bổ sung)  (19/04 )
Viện Kinh tế xây dựng – 43 năm xây dựng và phát triển (19/04 )
Sinh hoạt chính trị kỷ niệm 42 năm thành lập Viện Kinh tế xây dựng (19/04 )
Cấp bù chênh lệch lãi suất thực hiện chính sách tín dụng phát triển nhà ở xã hội (19/04 )
Giới thiệu Tạp chí Kinh tế xây dựng số 01/2017 (19/04 )
6 lĩnh vực cấp Chứng chỉ hành nghề thiết kế xây dựng công trình (19/04 )
Triển khai thực hiện các chính sách hỗ trợ về nhà ở  (19/04 )
Thực hiện quy định của Luật Nhà ở số 65/2014/QH13  (19/04 )
Nghiệm thu đề tài khoa học “Nghiên cứu xây dựng phương pháp xác định chỉ số giá xây dựng quốc gia làm cơ sở phục vụ quản lý điều hành kinh tế vĩ mô” (19/04 )
Hội thảo Hướng dẫn đo bóc khối lượng xây dựng công trình (19/04 )
Chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của Bộ, cơ quan ngang Bộ (19/04 )
Nghiệm thu đề tài khoa học “Nghiên cứu đánh giá các thiệt hại, phương pháp xác định chi phí xây dựng bị dừng, hoãn, kéo dài thời gian so với tiến độ và giải pháp khắc phục đối với những công trình bị dừng, hoãn, kéo dài tiến độ” (19/04 )
Đầu năm 2011, văn phòng cho thuê sẽ chịu áp lực giảm giá (19/04 )
Mời bạn đọc tham gia, góp ý dự thảo tập Định mức dự toán xây dựng công trình - Phần thí nghiệm vật liệu, cấu kiện và kết cấu xây dựng (sửa đổi, bổ sung) (19/04 )
Thành lập Ban Chỉ đạo thực hiện Đề án áp dụng Mô hình thông tin công trình (BIM)  (19/04 )
Thành lập Ban soạn thảo, Tổ biên tập Đề án Hoàn thiện hệ thống định mức kinh tế - kỹ thuật và giá xây dựng  (19/04 )
Tình hình thực hiện Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 01/01/2017 của Chính phủ và một số kết quả chủ yếu về sản xuất kinh doanh trong tháng 3 và 3 tháng đầu năm 2017 của các đơn vị thuộc Bộ Xây dựng  (19/04 )
Viện Kinh tế xây dựng tham dự Hội khoẻ cơ quan Bộ Xây dựng năm 2017 (19/04 )
KHÁCH HÀNG VÀ ĐỐI TÁC
Mọi thắc mắc qúy khách vui lòng liên hệ số điện thoại nóng: (84-4) 397 421 52; (84-4) 382 159 87
Về đầu trangTrang chủ
Trang tin điện tử - Cơ quan chủ quản: Viện Kinh tế xây dựng - Bộ Xây dựng
Địa chỉ: Số 20 Thể Giao, Hai Bà Trưng, Hà Nội
Điện thoại: (84-4) 39742152;    Fax: (84-4) 38215987;   Email: VienKTXD@moc.gov.vn
Giấy phép số 205/GP-TTĐT ngày 14/11/2016 của Cục Quản lý phát thanh, truyền hình và thông tin điện tử