Chào mừng bạn đến với website  kinhtexaydung.gov.vn
 
Để một text box để khắc phục lỗi không bắt sự kiện khi enter

Quản lý rủi ro để phát triển mô hình hợp tác đối tác công tư ở nước ta

Cập nhật: 05/12/2018
Lượt xem: 6355
  1. Đặt vấn đề
Quản lý rủi ro trong hợp tác đối tác công tư đã được nhà nước, nhà đầu tư cũng như nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước quan tâm, nghiên cứu từ lâu. Mặc dù vậy ngoài những rủi ro truyền thống, thời gian gần đây “rủi ro độc quyền tư nhân” xuất hiện đã đặt ra những thách thức nhất định cho sự phát triển mô hình đối tác công tư ở nước ta.       
Từ đó cho thấy, các bên tham gia trong hợp tác đối tác công tư cần nhận diện và đánh giá đúng loại rủi ro này, cũng như các loại rủi ro khác, trên cơ sở đó đưa ra các biện pháp quản lý rủi ro hợp lý nhất có thể.

2. Khái niệm mô hình hợp tác đối tác công tư PPP

Nghiên cứu nhiều tài liệu [3, 4, 6, 7, 8] cho thấy, có nhiều cách hiểu khác nhau về mô hình quan hệ đối tác công - tư (PPP - Public Private Partnerships), nhưng cách phổ biến nhất là nhà nước và các nhà đầu tư tư nhân cùng ký một hợp đồng để phân chia lợi ích, rủi ro cũng như trách nhiệm của mỗi bên trong việc xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng hay cung cấp một dịch vụ công nào đó.

Không một chính phủ nào có đủ ngân sách để đầu tư cho toàn bộ hệ thống cơ sở hạ tầng, nhưng cũng không nhà đầu tư tư nhân nào có thể làm được việc này vì đây là lĩnh vực có hiệu quả kinh tế thấp, nhiều rủi ro và đây là lĩnh vực độc quyền của nhà nước. Kinh nghiệm trên thế giới chỉ ra rằng phương thức hiệu quả nhất để giải quyết vấn đề nêu trên là hình thức quan hệ đối tác công-tư, trong đó cho phép khu vực kinh tế tư nhân tham gia vào quá trình phát triển lĩnh vực dịch vụ xã hội. Đầu tư PPP giúp chính phủ giảm bớt gánh nặng bảo lãnh vốn, giải được bài toán thu hút đầu tư vào cơ sở hạ tầng.

3. Đặc điểm của mô hình đối tác công-tư PPP 

Đối tượng và loại hình hợp tác công-tư PPP phụ thuộc vào 4 nhóm yếu tố chính: quy mô đầu tư, yêu cầu trình độ kỹ thuật-công nghệ, loại hình thức thanh toán, trách nhiệm tài chính.

Phân tích kinh nghiệm thế giới cho thấy, đặc tính của hợp tác công-tư PPP là loại hình dịch vụ mà doanh nghiệp tư nhân cung cấp (xây dựng hạ tầng đô thị và/hay cung cấp dịch vụ), là hình thức thanh toán, trách nhiệm tài chính, thời hạn hợp đồng … Trong điều kiện các yếu tố bên ngoài luôn thay đổi, hợp tác công-tư PPP đã phát triển ra nhiều hình thức đa dạng. Mức độ và điều kiện sử dụng hợp tác công-tư PPP về cơ bản phụ thuộc vào tính chất của tài nguyên/dịch vụ mà hợp tác công-tư PPP đề cập đến. Tính đa dạng của nó có thể phân tích theo 4 tiêu chí chính sau đây: tầm quan trọng của hạ tầng đô thị, mức độ phức tạp của công nghệ, bù đắp tài nguyên, quy mô lĩnh vực sản xuất/sử dụng.

Tầm quan trọng của hạ tầng đô thị phụ thuộc vào tài nguyên/dịch vụ nhà nước. Đối với hợp tác công tư PPP thì cơ sở hạ tầng kỹ thuật như giao thông đường bộ, giao thông đô thị, viễn thông, cấp điện, cấp nước, thoát nước, chiếu sáng đô thị có tầm quan trọng lớn hơn là đối với cơ sở hạ tầng xã hội như, giáo dục, y tế, quốc phòng, an ninh, nghiên cứu, pháp luật. Tính chất cơ bản của hợp tác công-tư PPP là bù đắp tài nguyên mà người dân đã sử dụng. Điều này phụ thuộc vào từng lĩnh vực ngành nghề. Phụ thuộc vào khối lượng sử dụng điện, nước, giao thông có thể dễ dàng tính ra phí sử dụng. Nhưng không thể tính được đối với an ninh quốc phòng, chiếu sáng đô thị, pháp luật hay nghiên cứu khoa học vì đây hoàn toàn là chức năng của nhà nước, cũng vì thế người sử dụng không thể trả các phí này mà phải do người đóng thuế trả. Trong một số trường hợp cụ thể, như giao thông đô thị có thể thu phí sử dụng đường tư nhân.

Bảng 1. Một số loại hình cung ứng dịch vụ của nhà nước và tư nhân [3]
 
Thanh toán Nhà nước Tư nhân
Nhà nước: các loại thuế do người dân đóng thuế  Chỉ có nhà nước (an ninh, quốc phòng) Hợp đồng cung cấp dịch vụ (xử lý rác thải)
Tư nhân: người sử dụng trả phí Độc quyền của nhà nước Hợp đồng hợp tác công tư PPP (cấp nước)
Kết hợp cả 2 loại: thuế và phí sử dụng Độc quyền và trợ cấp Hợp đồng hợp tác công tư PPP và trợ giá (thoát nước)
 
4. Phân loại hợp tác đối tác công – tư dưới góc độ phân chia rủi ro

Quan điểm về rủi ro. Nhìn chung các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước có các quan điểm khác nhau về bản chất của rủi ro. Trường hợp chung nhất, một mặt, người ta coi rủi ro như một mối nguy hiểm nào đó; mặt khác đó là hành động nắm bắt lấy cơ hội, một dịp may, mà đòi hỏi sự dũng cảm và quyết đoán, sự tháo vát với hy vọng có được một kết quả tốt đẹp.

Phân loại hợp tác đối tác công – tư. Yếu tố quan trọng nhất của hợp tác công-tư là việc ký kết hợp đồng giữa các cơ quan chức năng nhà nước hay cơ quan chính quyền địa phương và nhà đầu tư tư nhân phải dựa trên cơ sở phân bổ rủi ro giữa các khu vực kinh tế nhà nước và kinh tế tư nhân.  Phụ thuộc vào việc phân bổ các rủi ro vận hành, rủi ro kinh doanh và rủi ro đầu tư người ta phân chia các hình thức hợp tác công-tư: hợp đồng dịch vụ, hợp đồng quản lý, hợp đồng thuê hay hợp đồng hợp tác công-tư PPP. Mức độ rủi ro của nhà nước giảm dần theo các loại hợp đồng trên đây, đồng nghĩa với việc mức độ rủi ro của nhà đầu tư tư nhân tăng dần lên.   

Bảng 2. Phân chia rủi ro, trách nhiệm trong các loại hình thu hút đầu tư tư nhân [6]
 
Loại hình
hợp đồng
Khai thác Rủi ro
kinh doanh
Vốn đầu tư Sở hữu tài sản Thời hạn hợp đồng
Dịch vụ Nhà nước-tư nhân Nhà nước Nhà nước Nhà nước 1 -2 năm
Hợp đồng
quản lý
 
Nhà nước-tư nhân Nhà nước Nhà nước Nhà nước 3-5 năm
Hợp đồng thuê Tư nhân Tư nhân Nhà nước Nhà nước 10-15 năm
Hợp đồng nhượng quyền /hợp tác công-tư PPP          
ВОТ Tư nhân Tư nhân Tư nhân Nhà nước 25-30 năm
BOOT Tư nhân Tư nhân Tư nhân Nhà nước-tư nhân 10-30 năm
BOO Tư nhân Tư nhân Tư nhân Tư nhân -«-
ROT Tư nhân Tư nhân Tư nhân Nhà nước-tư nhân -«-
 
Xét về hình thức và bản chất hợp đồng, quan hệ đối tác công - tư chia ra 2 loại hợp đồng quản lý (CONTRACTING-OUT) là hợp đồng quản lý ủy quyền và đơn giản là hợp đồng quản lý. Hợp đồng quản lý ủy quyền (incentive fee management contract) là hình thức quản lý mà trong đó nhà điều hành có trách nhiệm đảm bảo vận hành hệ thống hạ tầng kỹ thuật và thu phí của người sử dụng. Sự khác nhau cơ bản giữa Hợp đồng quản lý (fixed fee management contract) và Hợp đồng quản lý ủy quyền là phương thức thanh toán. Nếu như đơn vị quản lý theo hợp đồng quản lý ủy quyền được thanh toán theo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, thì theo hợp đồng quản lý họ được trả phí không theo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh [3, 6]. 
Trong Hợp đồng quản lý thì chủ sở hữu chịu mọi rủi ro và bất ổn định, vì thế rủi ro của nhà quản lý là làm sao để doanh thu đủ để bù đắp chi phí vận hành, cũng vì vậy trường hợp này ít rủi ro hơn quản lý ủy quyền. Cho thuê (lease contract) là phương thức quản lý mà trong đó doanh nghiệp này chuyển giao cho doanh nghiệp tư nhân khác quyền sử dụng công trình đang tồn tại và nhận được thù lao. 

Hợp đồng dịch vụ là hình thức đơn giản nhất của mô hình đối tác công -tư. Hợp đồng dịch vụ được đánh giá chỉ là tiền đề để hình thành các quan hệ đối tác thực sự giữa các doanh nghiệp tư nhân và Nhà nước bởi vì trong hợp đồng dịch vụ nhà nước không gánh chịu các rủi ro. Hợp đồng quản lý: doanh nghiệp quản lý trong lĩnh vực công trình công cộng chịu mọi rủi ro liên quan đến vận hành và đảm bảo ổn định hoạt động của hệ thống hạ tầng kỹ thuật. Hợp đồng thuê: xét trên góc độ pháp lý thì hợp đồng thuê khác với hợp đồng dịch vụ kể trên và hợp đồng quản lý vì nó liên quan đến loại hợp đồng chuyển giao tài sản. Hợp đồng thuê- mua (leasing) hiện đang được sử dụng rất phổ biến là loại hình biến thể của hợp đồng thuê. Hợp đồng hợp tác công-tư PPP (hợp đồng nhượng quyền): khái niệm hợp tác công-tư bắt nguồn từ tiếng latinh “concession” là cho phép, nhượng quyền chứ không phải là thuê. So sánh với quan hệ “thuê” thì hợp tác công-tư “concession” đòi hỏi việc sử dụng tài sản phải chặt chẽ và rõ ràng hơn.

Hợp đồng nhượng quyền (concession contract) là hình thức thông dụng nhất của quản lý ủy quyền trong lĩnh vực công trình công cộng, hạ tầng đô thị. Nhượng quyền khai thác (Franchise) là hình thức mà theo đó cơ sở hạ tầng được nhà nước xây dựng và sở hữu, nhưng giao (thường là thông qua đấu thầu) cho tư nhân vận hành và khai thác. Thiết kế - xây dựng - tài trợ - vận hành (Design- Build - Finance – Operate hay DBFO), khác với nhượng quyền khai thác, khu vực tư nhân sẽ đứng ra xây dựng, tài trợ và vận hành công trình nhưng nó vẫn thuộc sở hữu nhà nước. Xây dựng - vận hành - chuyển giao (Build - Operate - Transfer hay BOT) là mô hình mà ở đó công ty thực hiện dự án sẽ đứng ra xây dựng và vận hành công trình trong một thời gian nhất định sau đó chuyển giao toàn bộ cho nhà nước. Mô hình này khá phổ biến ở Việt Nam. Xây dựng - chuyển giao - vận hành (Build – Transfer- Operate hay BTO), khác với mô hình BOT, trong mô hình BTO, quyền sở hữu CSHT được chuyển giao ngay cho nhà nước sau khi xây dựng xong, nhưng công ty thực hiện dự án vẫn giữ quyền khai thác công trình. Xây dựng, sở hữu, khai thác, chuyển giao (Build-Own - Operate - Transfer hay BOOT); Xây dựng, chuyển giao (Build- Transfer hay BT); Xây dựng - sở hữu - vận hành (Build - Own - Operate hay BOO). Ở mô hình này, công ty thực hiện dự án sẽ đứng ra xây dựng công trình, sở hữu và vận hành nó. Mô hình BOO rất phổ biến đối với các nhà máy điện cả ở Việt Nam và trên thế giới. Sửa chữa, sở hữu, chuyển giao- (Repair- Own - Transfer hay ROT) [3, 4, 6].

5. Rủi ro, trách nhiệm, quyền lợi của nhà nước và tư nhân trong hợp đồng PPP

Doanh nghiệp tư nhân khi ký hợp đồng hợp tác công tư PPP đều phải tính đến doanh thu cho hoạt động của mình. Trong hợp đồng đều phải quy định điều kiện thanh toán. Có 2 cách thức thanh toán: phần do các cơ quan chức nhà nước thanh toán và do người sử dụng thanh toán. Trường hợp nhà nước thanh toán thì có nhiều hình thức khác nhau, như giá cố định và giá tính theo tỷ lệ %. Hợp đồng giá cố định có thể được điều chỉnh theo chỉ số giá và bao gồm các điều khoản phạt cũng như thưởng. Trường hợp người dân trả phí thì có hình thức thanh toán theo biểu phí hoặc theo giá. Giá có thể ở dạng giá tối thiểu hoặc được hỗ trợ theo tỷ lệ % với dịch vụ sử dụng.

Người ta lựa chọn điều kiện thanh toán căn cứ vào các yếu tố kỹ thuật, xã hội và kinh tế và vì thế luôn phức tạp. Trên góc độ kỹ thuật có thể xác định được biểu phí sử dụng tài nguyên/dịch vụ, nhưng theo các yếu tố khác thì không xác định được. Các tài nguyên này phải bù đắp thông qua các loại thuế. Biểu phí sử dụng tài nguyên/dịch vụ phụ thuộc vào cơ cấu và mức độ công nghệ của nó và chịu ảnh hưởng của cầu và khối lượng sử dụng.

Bảng 3. Nội dung cơ bản của hợp đồng hợp tác công tư PPP [6]
 
Dịch vụ của tư nhân Thanh toán dịch vụ
Chỉ có cơ sở hạ tầng, không bao gồm dịch vụ: Các cơ quan chức năng nhà nước:
- các công tác thiết kế - giá cố định:
- xây dựng - thanh toán ngay
- bảo dưỡng - theo giai đoạn
Chỉ có dịch vụ không bao gồm cơ sở hạ tầng: Theo tỷ lệ:
- chỉ quản lý một số dịch vụ - thanh toán theo dịch vụ
- quản lý tất cả các dịch vụ - theo chi phí thực
Cơ sở hạ tầng và dịch vụ: Người sử dụng (theo biểu phí):
- dịch vụ và cơ sở hạ tầng hiện có - kết hợp (biểu phí và giá)
- dịch vụ và xây dựng thêm cơ sở hạ tầng  
 
Vốn đầu tư dự án PPP phụ thuộc nhiều vào thời hạn hợp đồng. Kinh nghiệm chỉ ra rằng doanh nghiệp tư nhân không bỏ vốn đầu tư lớn vào hợp đồng với thời hạn 3 năm mà yêu cầu thời gian hoàn vốn ít nhất là 15 năm. Vì thế phải tìm ra cách thức dung hòa, thời hạn hợp đồng phải đủ dài để thu hút vốn đầu tư lớn, đồng thời cũng phải đủ ngắn để có thể có được lợi ích do môi trường cạnh tranh trên thị trường mang lại.  

6. Giải pháp quản lý rủi ro phát triển hợp tác đối tác công tư PPP ở nước ta

6.1. Hợp tác đối tác công tư PPP ở nước ta

Cơ chế hợp tác công tư ở nước ta chỉ mới bắt đầu được triển khai thực hiện từ ngày 15/01/2011, sau khi Quy chế thí điểm đầu tư theo hình thức đối tác công - tư được ban hành kèm theo Quyết định 71/QĐ-TTg ngày 09/11/2010 của Thủ tướng Chính phủ có hiệu lực. Trên thực tế, một số dự án đầu tư theo hình thức PPP đã được thí điểm thực hiện từ những năm 2000 trước khi Nghị định 108/2009/NĐ-CP được ban hành. Các dự án này đã và đang mang lại hiệu kinh tế xã hội cho nhà nước và người dân cũng như lợi nhuận cho doanh nghiệp.

Tuy có rất nhiều loại hợp đồng đối tác công tư như đã phân tích trên đây, các văn bản pháp quy ở nước ta mới chỉ cho phép đầu tư theo 3 hình thức là BOT, BTO và BT [1, 2, 9]. Đây cũng là những hình thức đầu tư phổ biến nhất ở nước ta hiện nay.
Trước đây xu hướng của Chính phủ là trao BOT cho các doanh nghiệp nhà nước trên cơ sở đàm phán, chứ không phải đấu thầu cạnh tranh và thường bảo lãnh cho các khoản vay và như vậy làm tăng nợ công. Nghị định 108 bãi bỏ quy định về việc xin phê duyệt của Thủ tướng Chính phủ đối với một khoản bảo lãnh của Chính phủ trước khi đàm phán hợp đồng. Theo đó, Chính phủ có thể cấp một bảo lãnh trong bất kỳ giai đoạn nào của dự án BOT.

6.2. Lý thuyết quản lý rủi ro

Trên phương diện khoa học, lý thuyết quản lý rủi ro [8] bao gồm 3 giai đoạn chính: a) Nhận diện rủi ro; b) Đánh giá cấp độ và xác suất xảy ra của từng loại rủi ro; c) Sử dụng các nhóm phương pháp/phương pháp quản lý rủi ro.
Theo một số tài liệu [4, 5, 8] phương pháp chuyên gia thường được sử dụng để đánh giá cấp độ và xác suất xảy ra của từng loại rủi ro. Trong đầu tư xây dựng, phương pháp quản lý rủi ro sau đây là phổ biến hơn cả:
  • Nhóm các phương pháp bù rủi ro;
  • Nhóm các phương pháp phân chia rủi ro;
  • Nhóm các phương pháp đầu tư mạo hiểm;
  • Nhóm các phương pháp né tránh rủi ro.
Trong xây dựng nhà ở, hạ tầng kỹ thuật, để quản lý rủi ro hiệu quả người ta sử dụng các phương pháp chủ yếu sau đây:
  • Phân chia rủi ro;
  • Bảo hiểm rủi ro;
  • Tự bảo hiểm, tự bảo vệ rủi ro “hedge” (gồm có hợp đồng kỳ hạn forward, hợp đồng tương lai futures, hợp đồng quyền chọn options).
Việc lựa chọn phương pháp quản lý rủi ro phụ thuộc vào loại hợp đồng, loại hình đầu tư, giai đoạn thực hiện ... Do vậy quản lý rủi ro là quá trình động, phức tạp và tốn kém, nhưng hết sức cần thiết.  

6.3. Nhận diện rủi ro trong hợp tác đối tác công tư PPP ở nước ta

Nhiều nghiên cứu [3, 4, 5, 6, 7] đã chỉ ra rằng, hợp tác công tư trong lĩnh vực hạ tầng đô thị chứa đựng nhiều rủi ro. Đây là loại rủi ro kỹ thuật (rủi ro đầu tư) và rủi ro kinh doanh (thương mại). Rủi ro kỹ thuật liên quan đến chi phí xây dựng do nhiều công trình hạ tầng kỹ thuật là đơn chiếc, mang tính độc đáo với vị trí và tính chất nhất định nên đòi hỏi chi phí xây dựng lớn và thời gian dài. Rủi ro kinh doanh liên quan đến việc khai thác hạ tầng kỹ thuật một cách có hiệu quả do chịu ảnh hưởng của các yếu tố sau doanh thu, giá, công nghệ, cạnh tranh …  Hơn nữa luôn luôn tồn tại rủi ro do doanh thu, rủi ro do chi phí không xác định trước được. Ngoài ra các nhà đầu tư tư nhân phải đối mặt với nhiều rủi ro mà họ cần xem xét trong suốt thời hạn của một dự án cơ sở hạ tầng, như rủi ro đấu thầu, rủi ro đàm phán, rủi ro xây dựng, rủi ro hoạt động và rủi ro từ Chính phủ. Lựa chọn loại hợp đồng đối tác công tư có mức độ rủi ro chấp nhận được và phù hợp với năng lực của nhà đầu tư tư nhân là cách thức giảm thiểu rủi ro trong các dự án đầu tư PPP.

Bên cạnh những dự án PPP thành công cũng có nhiều dự án gặp phải những khó khăn khi triển khai dẫn đến nguy cơ phá sản hoặc thành phố phải mua lại từ nguồn vốn ngân sách [4]. Thất bại của một số dự án BOT cho thấy nhà nước, chính quyền địa phương cũng như nhà đầu tư tư nhân khi nghiên cứu, lập dự án đầu tư chưa tính toán kỹ các yếu tố liên quan, chưa nhận diện đúng rủi ro, đánh giá và quản lý rủi ro một cách tích cực.

6.4. Quản lý rủi ro và rủi ro độc quyền tư nhân trong hợp tác đối tác công tư PPP ở nước ta

Thực tế cho thấy, thời gian qua nhà nước và nhà đầu tư tư nhân ngày càng chủ động quản lý rủi ro trong hợp tác đối tác công tư PPP, ngoài các biện pháp thông thường một số phương pháp quản lý rủi ro thường được sử dụng gồm có [4]:
  1. Lựa chọn loại hợp đồng PPP phù hợp nhằm quản lý rủi ro;
  2. Lựa chọn hình thức thanh toán để quản lý rủi ro;
  3. Đưa vào nhiều điều khoản phòng ngừa các tình huống bất lợi trong hợp đồng;
  4. Về phía nhà nước, cơ quan quản lý ban hành nhiều quy định, chính sách can thiệp vào quá trình khai thác vận hành dự án PPP như, quy hoạch lại mạng lưới giao thông, giảm phí BOT, không cho phép nhà đầu tư được thu phí khi chưa quyết toán, chưa làm xong …
Mặc dầu vậy, thời gian gần đây “rủi ro độc quyền tư nhân” đã đặt ra nhiều thách thức đối với nhà nước và nhà đầu tư. Rủi ro độc quyền của các dự án BOT đã dẫn đến việc doanh nghiệp và người dân địa phương khiếu nại và phản đối ngày càng nhiều do buộc phải sử dụng dịch vụ BOT thu phí. Điển hình là các dự án BOT Bến Thủy [10], BOT cầu Hạc Trì [17, 18], dự án BOT tại thị trấn Lương Sơn, quốc lộ 6 tỉnh Hòa Bình [14] ...

Đây là rủi ro về phía các cơ quan chức năng nhà nước khi ủy thác cho doanh nghiệp tư nhân quản lý và khai thác cơ sở hạ tầng kỹ thuật. Độc quyền tư nhân có trách nhiệm tuân thủ các nguyên tắc phục vụ chính: liên tục, có khả năng thích nghi với điều kiện thực tế, “rõ ràng, minh bạch” và khả năng tiếp cận dự án ngang nhau của các doanh nghiệp quan tâm.
Kết quả là các cơ quan chức năng Nhà nước chịu các rủi ro sau: rủi ro ngừng trệ công việc và cung cấp dịch vụ; rủi ro bội chi; rủi ro chính trị trong mối quan hệ với người dân và người sử dụng; rủi ro chuộc lại dự án; rủi ro công việc không hiệu quả; rủi ro không thay thế được nhà đầu tư tư nhân/người nhận nhượng quyền; rủi ro đình lại kế hoạch hiện đại hóa, thay đổi công nghệ tiên tiến hay phát triển dự án trong tương lai [6].

Như chúng ta đã biết, luôn tồn tại những rủi ro cần phải quản lý. Hợp đồng hợp tác đối tác công tư cần phải có quy định phân chia rủi ro giữa các bên. Hình thức hợp đồng mà trong đó nhà nước gánh chịu mọi rủi ro sẽ dẫn đến chi phí lớn, vốn đầu tư vào dự án thấp. Hình thức hợp đồng mà trong đó tư nhân gánh chịu mọi rủi ro thì nhà nước sẽ không có lợi. Từ đó suy ra rằng tư nhân bắt buộc phải đảm bảo cho mình khoản thưởng để bù đắp cho rủi ro, do đó nhà nước buộc phải tăng giá hay biểu phí để thanh toán rủi ro.

7. Kết luận

Mô hình đối tác công tư PPP đã và đang phát huy hiệu quả trong các dự án đầu tư vào cơ sở hạ tầng đô thị ở nước ta hiện nay. Tuy nhiên kinh nghiệm triển khai trong thời gian qua cho thấy mô hình này cần được nhà nước và nhà đầu tư tư nhân tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện phương pháp quản lý rủi ro, đặc biệt là “rủi ro độc quyền tư nhân” để phù hợp với điều kiện thực tế ở nước ta.

Tác giả: TS. ĐOÀN DƯƠNG HẢI
KHOA KINH TẾ VÀ QUẢN LÝ XÂY DỰNG, TRƯỜNG ĐẠI HỌC XÂY DỰNG


Các tin liên quan:
Đề xuất mô hình hợp tác “Công – Tư” phù hợp cho các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng kỹ thuật và xã hội trên địa bàn thành phố Hà Nội (05/12 )
Quản lý Nhà nước đối với thị trường bất động sản (05/12 )
Một số vấn đề về phát triển nhà ở xã hội cho thuê tại khu vực đô thị ở Việt Nam (05/12 )
Một số vấn đề trọng tâm trong nhận thức và tổ chức thực hiện pháp luật hiện hành về đầu tư xây dựng (05/12 )
Thực trạng và một số giải pháp nhằm nâng cao năng suất lao động ngành xây dựng (05/12 )
Tám nhà thầu ứng dụng BIM xuất sắc tại Anh (05/12 )
Đổi mới cơ chế xác định chi phí tư vấn đầu tư xây dựng  (05/12 )
Giải pháp nâng cao chất lượng công tác tư vấn kiểm soát chi phí đầu tư xây dựng (05/12 )
Công nghệ bê tông đầm lăn (05/12 )
Thuật ngữ hợp đồng xây dựng thông qua tài liệu của FIDIC (bài 2) (05/12 )
Những câu hỏi thường gặp về đầu tư theo hình thức đối tác công - tư (PPP) (05/12 )
Xây dựng phương án điều tra làm cơ sở tính chỉ số giá xây dựng thuộc hệ thống chỉ tiêu quốc gia và đề xuất những nội dung cần phối hợp trong tổ chức thực hiện (05/12 )
Giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế thi công bằng ván khuôn leo xây dựng nhà cao tầng (05/12 )
Một số vấn đề trong đo bóc khối lượng cho các công tác xây dựng (05/12 )
Thu nhập, lưu trữ dữ liệu giá xây dựng phục vụ xây dựng cơ sở dữ liệu quản lý chi phí đầu tư xây dựng (05/12 )
Các thuật ngữ Tiếng Anh chuyên ngành xây dựng (05/12 )
Tăng cường quản lý đầu tư công thành phố Cần Thơ giai đoạn 2015-2020 (05/12 )
Kinh nghiệm một số nước về chính sách phát triển thị trường bất động sản và bài học cho Việt Nam (05/12 )
Chất lượng công tác quản lý tiến độ thực hiện dự án đầu tư xây dựng (05/12 )
Xây dựng hệ thống thông tin về nhà ở và thị trường bất động sản – Điểm mới trong công tác quản lý (05/12 )
KHÁCH HÀNG VÀ ĐỐI TÁC
Mọi thắc mắc qúy khách vui lòng liên hệ số điện thoại nóng: (84-24) 397 421 52; (84-24) 382 159 87
Về đầu trangTrang chủ
Trang tin điện tử - Cơ quan chủ quản: Viện Kinh tế Xây dựng - Bộ Xây dựng
Địa chỉ: Số 20 Thể Giao, Hai Bà Trưng, Hà Nội
Điện thoại: (84-24) 39742152;    Fax: (84-4) 38215987
Giấy phép số 205/GP-TTĐT ngày 14/11/2016 của Cục Quản lý phát thanh, truyền hình và thông tin điện tử